Hiển thị các bài đăng có nhãn máy vớt rác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn máy vớt rác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Sông Nhuệ “nghẹt thở” vì… rác


Khoảng hai chục năm về trước, con sông Nhuệ vốn trong xanh, đầy thơ mộng… Nhưng cùng với thời gian, nó đã và đang “chết dần, chết mòn” vì bị lấn chiếm dòng chảy, vì ô nhiễm do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và vài năm gần đây, nó đang phải hứng chịu một khối lượng lớn rác thải sinh hoạt của người dân sinh sống dọc hai bên bờ.

Dễ dàng bắt gặp hình ảnh rác thải sinh hoạt trên sông Nhuệ ở bất cứ khu vực nào thuộc ngoại thành Hà Nội.
Thi nhau đổ rác ra sông
Cả một quãng sông dài 3 - 4km dày đặc những bãi rác, phấp phới các loại túi ni lông đủ màu, mùi xú uế bốc lên nồng nặc.
Sông Nhuệ có chiều dài khoảng hơn 113km, chảy qua địa bàn Hà Nội và HàNam. Trong đó trục chính của sông có chiều dài 74km (từ cống Liên Mạc (Từ Liêm) đến ngã ba Phủ Lý (HàNam). Có điều kiện đi dọc sông Nhuệ, nhất là khu vực ngoại thành Hà Nội, không khỏi giật mình vì ở nhiều đoạn, nhiều khúc sông xuất hiện từng đống rác thải sinh hoạt như đồi, như núi góp phần làm thu hẹp dòng chảy và tăng thêm nồng độ ô nhiễm của sông. Cảnh tượng những “núi” rác ven sông, dòng sông thì đặc quánh, đen ngòm lờ đờ chảy càng cho thấy rõ nó đang “thoi thóp” chờ “chết”!
Một điều dễ nhận thấy, trên địa bàn Hà Nội, càng về phía hạ du, nạn xả rác thải sinh hoạt bừa bãi xuống ven sông Nhuệ càng gia tăng, nhất là thuộc địa bàn các huyện: Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín… Tại bờ hữu sông Nhuệ thuộc địa bàn xã Cự Khê, Tam Hưng (huyện Thanh Oai) tình trạng đổ rác thải ra ven sông diễn ra tràn lan. Cả một quãng sông dài 3 - 4km dày đặc những bãi rác, phấp phới các loại túi ni lông đủ màu, mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Điển hình ở khu vực chợ Cự Đà, hằng ngày sau khi tan phiên chợ, người ta lại thản nhiên quét dọn rác thải rồi vô tư đổ xuống ven sông như không có gì xảy ra. Thuận tiện nơi nào là họ đổ rác nơi đó, chẳng cần kiêng kỵ trước cửa đình, cửa chùa, vì thế mà trước khu vực đình Cự Đà, chùa Khúc Thủy, chỉ cách một con đường, phía ven sông ngập tràn rác thải.
Thông thường những bãi rác thải bên bờ hữu sông Nhuệ chỉ có đi bên bờ tả mới nhìn rõ và ngược lại nên người ta cứ vô tư mà đổ. Đối với những khúc sông thuộc bên bồi, cùng với thời gian rác thải sẽ trở thành đống, thành “núi” gây ô nhiễm môi trường; còn đối với những quãng sông thuộc bên lở thì vào mùa mưa rác cứ thế mặc sức trôi theo dòng hoặc lắng đọng dưới đáy sông.
Sự thờ ơ của chính quyền
Tìm hiểu thực tế cho thấy, ở hầu hết các địa phương ven sông Nhuệ thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội đều đã thành lập tổ thu gom rác thải. Tuy nhiên, rất ít địa phương có bãi tập kết rác tạm thời rồi để ôtô thu gom chở về bãi xử lý rác thải tập trung của TP. Còn lại, phần lớn các địa phương đều không thuận lợi về đường giao thông nên ôtô không thể vào thu gom rác thải để chở về bãi xử lý rác thải tập trung; trong khi đó chính quyền xã lại chưa quy hoạch được hố chôn lấp rác thải tạm thời nên rác thải mặc dù được thu gom nhưng lại phó mặc để cho những người thu gom đổ đâu thì đổ. Do đó, đối với những địa phương ở ven sông Nhuệ thì đương nhiên người ta sẽ chọn giải pháp là đổ xuống sông cho tiện.
Ngay cả ở một số địa phương đã quy hoạch được hố chôn lấp rác thải tạm thời rồi, thì do ngại quãng đường vận chuyển rác quá xa nên người ta cứ đổ đại xuống sông cho đỡ mệt bởi chẳng ai quan tâm hay xử phạt. Cũng có khi, chưa thống nhất được phí môi trường giữa các hộ dân với chính quyền sở tại, các hộ dân sinh sống ven sông Nhuệ đã “tẩy chay” tổ thu gom rác, tự tay họ mang rác ra sông đổ bất kể sáng trưa, chiều tối. Với họ như thế lại đỡ đi một khoản chi phí “không cần thiết”!
Có một thực tế, hầu hết các địa phương ngoại thành Hà Nội ven sông Nhuệ còn thiếu quan tâm đến việc tuyên truyền, vận động để người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không đổ rác thải bừa bãi xuống sông. Thậm chí, tại một số địa phương, chính quyền sở tại mặc dù không phải không biết đến tình trạng đổ rác thải xuống sông Nhuệ nhưng họ vẫn thờ ơ, không hề đưa ra biện pháp ngăn chặn. Có lẽ, với họ những bãi rác thải ven sông Nhuệ thuộc địa bàn họ quản lý không thuộc trách nhiệm của họ phải xử lý, giải quyết; hơn thế vì cấp trên chẳng ai biết, chẳng ai kiểm tra, khiển trách.
Đến bây giờ, chưa có ai thống kê đã có bao nhiêu rác thải sinh hoạt đã đổ xuống sông Nhuệ; khối lượng rác thải hàng ngày người dân đổ xuống sông Nhuệ thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội là bao nhiêu? Nhưng rõ ràng, trước thực trạng trên nếu các cấp, các ngành không sớm có biện pháp ngăn chặn thì hậu quả chắc khôn lường, rất khó khắc phục, sông Nhuệ ô nhiễm ngày càng thêm ô nhiễm. Không phải ngẫu nhiên mà tại khu vực nội thành, đơn vị chức năng hằng ngày vẫn cắt cử nhân viên đi vớt rác thải trên sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu…
Thư Kỳ

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Xử lý nước cứng

Bơm định lượng OBL - Ý

Độ cứng của nước là số đo hàm lượng các ion kim loại Ca2+ và Mg2+ có trong nước.
Độ cứng của nước được gọi là tạm thời khi có mặt của muối cacbonat và bicacbonat Ca, Mg. Loại nước này khi đun sôi sẽ tạo ra muối kết tủa CaCO3 và MgCO3.
Độ cứng vĩnh cữu của nước do các loại muối sunfat hoặc clorua Ca, Mg tạo ra. Loại muối này thường khó xử lý.
Trong sinh hoạt, độ cứng cao gây lãng phí xà phòng và các chất tẩy rửa, tạo cặn lắng bám trên bề mặt các trang thiết bị sinh hoạt.
Trong công nghiệp độ cứng của nước gây cản trở cho quá trình vận chuyển và làm giảm năng lực truyền nhiệt, giảm tuổi thọ của thiết bị.
CÁC GIẢI PHÁP
Có nhiều phương pháp làm mềm nước, vì thế phải căn cứ vào mức độ làm mềm cần thiết (độ cứng cho phép còn lại của nước), chất lượng nước nguồn và các chỉ tiêu kinh tế khác để chọn ra phương pháp làm mềm thích hợp nhất.
Để làm mềm nước, người ta dùng các phương pháp sau:
-      Làm mềm nước bằng hóa chất: pha các hóa chất khác nhau vào nước để kết hợp với ion Ca2+ và Mg2+ tạo thành các hợp chất không tan trong nước
-      Phương pháp nhiệt: đun nóng hoặc chưng cất nước.
-      Phương pháp trao đổi ion: lọc nước cần làm mềm qua lớp lọc cationit có khả năng trao đổi Na+ hoặc H+ có trong thành phần của hạt cationit với ion Ca2+ và Mg2+ hòa tan trong nước và giữ chúng lại trên bề mặt của các hạt lớp vật liệu lọc.
-      Phương pháp tổng hợp: là phương pháp phối hợp 2 trong 3 phương pháp trên.
-      Lọc qua màng bán thấm, thẩm thấu ngược (RO)
1.    Phương pháp nhiệt
Cơ sở lý thuyết của phương pháp này là dùng nhiệt để bốc hơi khí cacbonic hòa tan trong nước. Trạng thái cân bằng của các hợp chất cacbonic sẽ chuyển dịch theo phương trình phản ứng sau:
               2HCO3- → CO32- + H2O + CO2 ­
               Ca2+ + CO32- → CaCO3  ↓
Nên        Ca(HCO3)2 → CaCO3  ↓ + CO2 ­ + H2O
Tuy nhiên, khi đun nóng nước chỉ khử được hết khí CO2 và giảm độ cứng cacbonat của nước, còn lượng CaCO3hòa tan vẫn còn tồn tại trong nước.
Riêng đối với Mg, quá trình khử xảy ra qua hai bước. Ở nhiệt độ thấp (đến 180C) ta có phản ứng:
               Mg(HCO3)2 → MgCO3 + CO2­ + H2O
Khi tiếp tục tăng nhiệt độ, MgCO3 bị thủy phân theo phản ứng:
               MgCO3 + H2O → Mg(OH)2 ↓ + CO2­
2.    Phương pháp hóa chất
Trong thực tế áp dụng hàng loạt phương pháp xử lý nước bằng hóa chất với mục đích kệt hợp các ion Ca2+ và  Mg2+ hòa tan trong nước thành các hợp chất không tan dễ lắng và lọc. Các hóa chất thường dùng để làm mềm nước là vôi, sođa Na2CO3, xút NaOH, hyđrôxit bari Ba(OH)2, photphat natri Na3PO4.
Chọn phương án làm mềm nước bằng hóa chất cần phải dựa vào chất lượng nước nguồn và mức độ làm mềm cần thiết. Trong một vài trường hợp có thể kết hợp làm mềm nước với khử sắt, khử silic, khử photphat…
Ngoài ra trong mỗi trường hợp cụ thể phải dựa trên cơ sở so sánh kinh tế kỹ thuật giữa các phương pháp, đặc biệt là với phương pháp làm mềm bằng cationit.
2.1.     Khử độ cứng cacbonat của nước bằng vôi
Khử độ cứng cacbonat của nước bằng vôi có thể áp dụng trong trường hợp ngoài yêu cầu giảm độ cứng cần phải giảm cả độ kiềm của nước.
2.2.     Làm mềm nước bằng vôi và sođa (Na2CO3)
Làm mềm nước bằng vôi và sođa là phương pháp có hiệu quả đối với thành phần ion bất kỳ của nước. Khi cho vôi vào nước khử được độ cứng canxi và magiê ở mức tương đương với hàm lượng của ion hyđrôcacbonat trong nước.
2.3.     Làm mềm nước làm phốt phát và bari:
Khi làm mềm nước bằng vôi và sođa do độ cứng của nước sau khi làm mềm còn tương đối lớn, người ta bổ sung phương pháp làm mềm triệt để bằng photphat. Hóa chất thường dùng là trinatri photphat hay dinatri photphat. Khi cho các hóa chất này vào nước chúng sẽ phản ứng với ion canxi và magiê tạo ra muối photphat của canxi và magiê không tan trong nước.
Để khử độ cứng sunfat có thể dùng cacbonat bari BaCO3, hyđrôxit bari Ba(OH)2 hay aluminat bari Ba(AlO2)2.
3.    Phương pháp trao đổi ion
Làm mềm nước bằng cationit dựa trên tính chất của một số chất không tan hoặc hầu như không tan trong nước – cationit, nhưng có khả năng trao đổi, khi ngâm trong nước, các chất này hấp thụ cation của muối hòa tan lên bề mặt hạt và nhả vào nước một số lượng tương đương cation đã được cấy lên bề mặt hạt từ trước.