Hiển thị các bài đăng có nhãn máy thổi khsi long tech. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn máy thổi khsi long tech. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Xử lý nước nhiễm Nitrat, Nitrit, Amoniac


Các hợp chất của nitơ có trong nước là kết quả của quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ có trong tự nhiên, trong các chất thải và trong các nguồn phân bón mà con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào nguồn nước. Các hợp chất này thường tồn tại dưới dạng Nitrat, Nitrit, Amoniac và cả dạng nguyên tố Nitơ (N2).
Tùy theo mức độ có mặt của các hợp chất nitơ mà ta có thể biết được mức độ ô nhiễm nguồn nước. Khi nước mới bị nhiễm bẩn bởi phân bón hoặc nước thải, trong nguồn nước có NH3, NO2- và NO3-. Sau một thời gian NH3 và NO2-bị oxy hóa thành NO3-. Như vậy:
Nếu nước chứa NH3 và nitơ hữu cơ thì coi như nước mới bị nhiễm bẩn và nguy hiểm.
Nếu nước chủ yếu có NO2- thì nước đã bị ô nhiễm thời gian dài hơn, ít nguy hiểm hơn.
Nếu nước chủ yếu là NO3- thì quá trình oxy hóa đã kết thúc.
Ở điều kiện yếm khí, NO3- sẽ bị khử thành N2 bay lên. Amoniac là chất gây nhiễm độc trầm trọng cho nước, gây độc cho loài cá.
Việc sử dụng rộng rãi các nguồn phân bón hóa học cũng làm cho hàm lượng amoniac trong nước tự nhiên tăng lên. Trong nước ngầm và nước đầm lầy hay gặp Nitrat(NO3-) và amoniac với hàm lượng cao.
CÁC GIẢI PHÁP
1.   Phương pháp khử ion Amoni
1.1. Phương pháp Clo hóa nước đến điểm đột biến
Khi cho CLo vào nước, trong nước tạo ra axit hypoclorit
                     Cl2 + H2O ⇔ HCl + HOCl
Axit hypoclorit kết hợp với NH4+ tạo thành Cloramin. Khi nhiệt độ nước ≥200C, pH ≥7 phản ứng diễn ra như sau:
                     OH- + NH4+→ NH4OH ⇔ NH3 + H2O
                     NH3 + HOCl → NH2Cl + H2O monocloramin
                     NH2Cl + HOCl → NHCl2 + H2O dicloramin
                     NHCl2 + HOCl → NCl3 + H2O tricloramin
Quá trình kết thúc sau 3 phút khuậy trộn nhẹ. Tại điểm oxy hóa hết Cloramin và trong nước xuất hiện Clo tự do gọi là điểm đột biến. Sau khi khử hết NH4+ trong nước cò lại lượng clo dư lớn, phải khử clo dư trước khi cấp cho người tiêu thụ.
♦      Khử Clo dư trong nước sau khi lọc bằng Natrisunfit (Na2SO3)
                    Na2SO3 + Cl2 + H2O → 2HCl + Na2SO4
♦      Khử Clo dư trong nước sau khi lọc bằng Trionatrisunfit (Na2S2O3)
                    4Cl2 + Na2S2O3 + 5H2O → 2NaCl+ 6HCl + 2H2SO4
Quá trình diễn ra hoàn chỉnh sau 15 phút khuấy trộn đều hóa chất và nước
1.2. Phương pháp làm thoáng
Muốn khử NH4+ ra khỏi nước bằng phương pháp làm thoáng, phải đưa pH của nước nguồn lên 10.5 – 11.0 để biến 99% NH4+ thành khí NH3 hòa tan trong nước.
♦      Nâng pH của nước thô: Để nâng pH của nước thô lên 10.5 – 11.0 thường dùng vôi hoặc xút. Sau bể lọc pha axit vào nước để đưa pH từ 10.5 – 11.0 xuống còn 7.5
♦      Tháp làm thoáng khử khí amoniac NH3 thường được thiết kế để khử khí amoniac có hàm lượng đầu vào 20 – 40 mg/l, đầu ra khỏi giàn hàm lượng còn lại 1 – 2mg/l, như vậy hiệu quả khử khí của tháp phải đạt 90 – 95%. Hiệu quả khử khí NH3 của tháp làm thoáng khi pH ≥11 phụ thuộc nhiều nhiệt độ của nước. Khi nhiệt độ nước tăng, tốc độ và số lượng ion NH4 chuyển hóa thành NH3 tăng nhanh.
1.3. Phương pháp trao đổi ion
Để khử NH4+ ra khỏi nước có thể áp dụng phương pháp lọc qua bể lọc cationit. Qua bể lọc cationit, lớp lọc sẽ giữ lại ion NH4+ hòa tan trong nước trên bề mặt hạt và cho vào nước ion Na+. Để khử NH4+ phải giữ pH của nước nguồn lớn hơn 4 và nhỏ hơn 8. Vì khi pH ≤ 4, hạt lọc cationit sẽ giữ lại cả ion H+ làm giảm hiệu quả khử NH4+ . Khi pH > 8 một phần ion NH4+ chuyển thành NH3 dạng khí hòa tan không có tác dụng với hạt cationit.
1.4. Phương pháp sinh học
Lóc nước đã được khử hết sắt và cặn bẩn qua bể lọc chậm hoặc bể lọc nhanh, thổi khí lien tục từ dưới lên. Do quá trình hoạt động vi khuẩn Nitrosomonas oxi hóa NH4+ thành NO2- và vi khuẩn Nitrobacter oxy hóa NO2-thành NO3- . Quá trình diễn ra theo phương trình:
NH4+ + 2O2 → NO3- + 2H+ + H2O
1.02NH4++ 1.89O2 + 2.02HCO3- → 0.21C5H7O2N + 1.0NO3- + 1.92 H2CO3 + 1.06H2O
2.   Khử Nitrate NO3-
Để khử nitrat dùng lọc thẩm thấu ngược RO, điện phân, trao đổi ion trong các bể lọc ionit.
Điều kiện áp dụng phương pháp trao đổi ion
♦      Nước có hàm lượng cặn < 1mg/l.
Tổng hàm lượng ion NO3- và SO42- và Cl- có sẵn trong nước phải nhỏ hơn 250 mg/l là hàm lượng ion Cl- lớn nhất cho phép có trong nước ăn uống. Vì khi lọc qua bể lọc anionit các ion SO42-, NO3- được giữ lại, thay bằng ion Cl- khi hoàn nguyên bể lọc anionit bằng dung dịch muối ăn.

Công trình xử lý nước thải Phú Đô (Hà Nội) không lấy quỹ đất đối ứng


Vừa qua có nhiều thông tin “tố cáo” việc Cty CP Đầu tư xây dựng và Thương mại Phú Điền (Công ty Phú Điền) làm thủ tục xin quỹ đất đối ứng khoảng 20,8 ha ở xã Ninh Hiệp và Yên Thường (Gia Lâm, Hà Nội) - nơi nằm trong bản đồ quy hoạch Hà Nội, được phê duyệt

Khu đất này là vùng đệm cây xanh - cho công trình xử lý nước thải Phú Đô...
Xác minh thực tế tại địa phương cũng như làm việc với đơn vị bị tố cáo, chúng tôi được biết: Năm 2009 Công ty Phú Điền được UBND Tp.Hà Nội giao là Nhà đầu tư dự án Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tại Phú Đô và xây dựng đồng bộ hệ thống thu gom lưu vực S3 theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT).
Theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư xây dựng theo hình thức BT thì phải xác định quỹ đất hoàn trả cho Nhà đầu tư khi lập dự án đầu tư. Tuy nhiên, dự án Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Phú Đô là một dự án có tổng vốn đầu tư lớn, nên việc xác định đủ quỹ đất đối ứng có giá trị tương đương là rất khó khăn khi quỹ đất ngày càng hạn hẹp.
Trước thực tế trên Công ty Phú Điền đã có văn bản số 177/CV-DA ngày 11.5.2012 trình UBND TP Hà Nội xin phép chuyển đổi hình thức đầu tư Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tại Phú Đô và hệ thống thu gom lưu vực S3 từ hình thức BT sang hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) và đã được UBND TP Hà Nội chấp thuận tại Thông báo số 116/TB-UBND ngày 21.5.2012 “về kết luận tại cuộc họp giao ban công trình xây dựng cơ bản trọng điểm khối Giao thông - Hạ tầng”.
Căn cứ theo Thông báo trên, lãnh đạo Công ty Phú Điền đã có văn bản gửi UBND huyện Gia Lâm khẳng định: Do chuyển đổi hình thức đầu tư từ BT sang hình thức BOT nên không cần phải sử dụng quỹ đất đối ứng cho dự án. Vì vậy, quỹ đất trước đây đã được Công ty Phú Điền đề xuất tại các xã Ninh Hiệp và xã Yên Thường (Gia Lâm) không tiếp tục triển khai...
Cũng xung quanh hoạt động của Công ty này, đơn thư của một số người dân phản ánh các ki ốt tại Trung tâm thương mại chợ Nành (Ninh Hiệp, Gia Lâm) do Công ty Phú Điền làm chủ đầu tư, đã được bán cho các hộ dân bị thu hồi đất với giá cao. Về vấn đề này, đại diện Công ty Phú Điền khẳng định: Công ty Phú Điền đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ về hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các hộ dân có đất bị thu hồi theo quy định.
Mặc dù pháp luật không yêu cầu chủ đầu tư phải hỗ trợ thêm ngoài các nghĩa vụ đã được quy định tại Quyết định phương án bồi thường do UBND phê duyệt, song để tạo điều kiện hỗ trợ cho bà con có cuộc sống ổn định lâu dài, Công ty Phú Điền đã ưu tiên cho bà con trong diện có đất bị thu hồi, nếu có nhu cầu, được đăng ký bốc thăm mua ki ốt kinh doanh tại chợ Nành. Đối với các hộ dân không có nhu cầu mua ki ốt, Công ty Phú Điền hỗ trợ thêm mỗi hộ mức từ 5 triệu đến 10 triệu đồng (tùy theo diện tích đất bị thu hồi).
Như vậy các việc làm của Công ty Phú Điền là đúng luật và cách hành xử là có tình có lý chứ không như đơn thư phản ánh và tố cáo.
Theo baomoi.com